icon search

Space shortcuts

Mục lục bài viết

b. Các định luật trong nguyên lý thị giác

1.2.1. Định luật khoảng cách (định luật của sự gần)

Định luật khoảng cách phát biểu như sau: Tất cả những nét hay điểm khi có khoảng cách gần nhau có xu hướng tạo thành nhóm, tạo mối liên kết theo chiều ngang hay chiều dọc (phụ thuộc vào độ gần của khoảng cách ngang hay dọc). Mối liên kết này tùy thuộc vào khoảng cách gần hay xa của những nét và những điểm đó.

– Ý nghĩa của định luật của sự gần hay định luật của khoảng cách: hình thể nào ở gần nhau bao giờ cũng tác động vào thị giác con người mạnh hơn ở xa.

– Hình ảnh minh họa:

Hình I-1a. Dàn đều: không tạo hiệu quả thị giác

Hình I-1b. Các cặp nối kết gần nhau >> Gây chú ý, tạo hiệu ứng thị giác

Hình I-1c. Liên kết nhóm các tácđộng mạnh đến thị giác

1.2.2. Định luật đồng đẳng (Định luật của sự đồng nhất _ Định luật của sự giống nhau)

– Tất cả những tín hiệu thị giác khi giống nhau về đường nét, hình mảng, màu sắc đặt bên cạnh những hình thể khác xen kẽ tuy khoảng cách của chúng không gần nhau nhưng chúng vẫn có mối liên kết với nhau và tác động đến sự chú ý của thị giác.

Ý nghĩa định luật đồng đẳng:

•  Định luật này nói lên khả năng bao quát hóa của hình thể, những chi tiết tinh vi được thị giác người loại bỏ vì vậy những hình giống nhau được xem như cùng một loại. Đồng thời mối liên kết đồng dạng này tác động mạnh đến sự chú ý của thị giác nhiều hơn là khoảng cách xa hay gần nên định luật về sự đồng đẳng có ưu thế nổi trội hơn định luật của sự gần.

•  Đồng đẳng là nguyên tắc phổ biến trong thiết kế hiện đại. Nguyên tắc này đề nghị người thiết kế sử dụng những yếu tố, đối tượng, màu sắc giống nhau xuyên suốt trong các tác phẩm của mình.

•  Bạn nên nhớ tất cả các khía cạnh của thiết kế bổ sung cho nhau chứ không phải là cạnh tranh cho sự chú ý. Nó phục vụ để tăng cường mối quan hệ giữa các yếu tố thiết kế và liên quan đến các chủ đề chính được thể hiện trong tác phẩm. Ví dụ bạn nên sử dụng tối đa 2-3 loại font, 2-3 màu sắc cho một căn phòng, không quá 3 chất liệu cho một bộ sofa…

•  Đồng nhất hoàn thành khi tạo ra: Đồng nhất tạo cảm giác riêng tư – Đồng nhất cung cấp cho các yếu tố xuất hiện một cảm giác chúng thuộc về nhau.

•  Một số cách để tạo sự đồng nhất cho tác phẩm của bạn là: Làm chúng giống nhau, tạo sự liên tục, sắp xếp có liên kết và đặt gần nhau.

Hình ảnh minh họa:

Hình I-2a

Sử dụng định luật đồng nhất trong hoa văn trang trí nội thất:

Hình I-2b

Cách tạo ra sự đồng nhất trong thiết kế nội thất: Một căn phòng được thiết kế là một thể thống nhất bao gồm tất cả các yếu tố và nguyên tắc của thiết kế khác để đảm bảo sự thống nhất một cảm giác trật tự, có một thống nhất về kích thước và hình dạng, một sự hài hòa về màu sắc và hoa văn…. mục tiêu cuối cùng của trang trí là tạo ra một căn phòng với sự thống nhất và sự hài hòa và một cảm giác nhịp điệu. Lặp đi lặp lại các yếu tố, cân bằng chúng khắp phòng, và sau đó thêm nhiều chút để phòng có ý nghĩa riêng của mình về nhân cách thực hiện việc này. Quá nhiều sự hiệp nhất có thể nhàm chán; quá nhiều có thể gây ra một cảm giác bồn chồn. Sắp đặt các yếu tố và ứng dụng các nguyên tắc kết hợp đúng đắn là chìa khóa để thiết kế đạt được sự đồng nhất.

Hình ảnh minh họa: trên lớp

1.2.3. Định luật trước sau (Định luật hẹp và rộng)

Tất cả các tín hiệu thị giác có hình thể nhỏ và khoảng cách hẹp bao giờ cũng tiến lên phía trước trở thành hình, còn tín hiệu thị giác có hình thể lớn khoảng cách rộng lại lùi về phía sau trở thành nền. Vậy hình thể và khoảng cách nhỏ hẹp bằng hình thể có khoảng cách rộng lớn.được sự liên kết chặt chẽ của nó để trở thành một hình thể mới.

Hình ảnh minh họa: xem trên lớp

   Hình I-2c                                                                          Hình I-2d

1.2.4. Định luật của sự khép kín

Định luật: Các hình thể của tín hiệu thị giác bằng nhau và giống nhau đặt cạnh nhau thì luôn luôn khép kín tạo cho thị giác cảm thụ được sự liên kết chặt chẽ của nó để trở thành một hình thể mới.

Hình ảnh minh họa:

Hình I-2e.

Ở hình I-2e, thị giác thuần túy nhận ra 6 đường thẳng song song. Khi bố trí khác đi thì thị giác nhận biết được 3 cặp song song sau đó mới tới yếu tố 6 đường song song.

Hình I-2f

Hình I-2f: Xét về hình 1 gồm 3 đôi song song nhưng nếu thêm đường gạch ngang như hình đã tạo ra vùng khép kín, lúc này cảm giác mạnh mẽ của thị giác thấy đường khép kín nổi bật lấn áp những cặp đường song song.

 Hình I-2g

Hình I-2h: Hai mảnh ghép hình chữ nhật khi đặt sát nhau và khớp nhau toàn bộ tạo cảm

giác gắn kết tốt nhất

 Hình I-2i: tranh bộ là một ứng dụng của định luật khép kín trong nghệ thuật

– Đường khép kín thắng định luật khoảng cách do đường khép kín có đặc tính khẳng định hình rất mạnh vì bản thân nó luôn vẽ lên một khuôn viên một hình thể nào đó bằng nét khép kín. Tuy nhiên đường khép kín là nét nối liền nhưng lại cho ta cảm giác bề mặt phẳng. Chính từ cảm giác chuyển đổi của nét sang mảng một cách đương nhiên nên cho ta thấy đường khép kín thắng khoảng cách.

1.2.5. Định luật của sự liên tục

– Định luật: thị giác sẽ nhận biết và bị tác động mạnh mẽ hơn bởi các đường nét liên tục v Hình ảnh minh họa:

Hình I-2k: cho thất các đoạn thẳng được nối liên tục chiếm ưu thế hơn

        Hình I- 2j                                                    Hình I-2k

Hình I-2m: đường khép kín cho ta thấy 2 hình tam giác đối đầu nhau, trường hợp này đường liên tục và khép kín luôn nổi bật và chiếm ưu thế hơn

 

Hình I-2l                                               Hình I-2m

1.2.6. Định luật liên tưởng (định luật của kinh nghiệm)

Định luật: Khi những tín hiệu xuất hiện 1 chiều hay một phía tạo cho thị giác cảm nhận được một hình thể vô hình hiện lên làm cho con người đoán nhận biết hình thể theo kinh nghiệm. Định luật này ứng dụng cụ thể là những biện pháp kinh điển về sự dồn nén tối thiểu những tín hiệu thẩm mỹ nhằm biểu hiện tối đa cảm xúc của cái đẹp, đa nghĩa nhất trên cơ sở sử dụng thông tin ít nhất

Trong một bố cục hướng đi của những nét lớn gợi ta liên tưởng chiều hướng. Nét ẩn trở thành điểm dị biệt gây hứng thú tò mò. Cái thông dụng nhất của ngôn ngữ hình ảnh liên tưởng thường dùng hình thành trong quá trình lịch sử. Chim bồ câu, nhành ô liu giúp người ta liên tưởng đến hòa bình. Cái thường thấy nhất là chiếc đầu lâu tượng trưng cho chết chóc (là kết cuộc của chiến tranh, hậu quả của độc địa, đường cùng của hút thuốc, ….) v Hình ảnh minh họa:

Hình I-2o: Kinh nghiệm cho ta liên tưởng và biết đây là hoa đồng tiền.

 Hình I-2o

1.2.7. Định luật của sự nhấn

Định luật: Nhấn mạnh là sự nhấn mạnh của một khu vực cụ thể tập trung hơn là trình bày một loạt các chi tiết quan trọng tương đương.

Khoảng cách vị trí của các tín hiệu thị giác càng gần nhau thị giác có xu hướng nối kế chúng theo một đường viền liên tục và vô hình dù ở đó không có đường viền. Những nét tương ứng đường viền mà mắt ta không nhìn thấy gọi là đường ảo, những đường ảo nối giữa các điểm tạo cho thị giác ảo ảnh hình có đường viền liên tục.

Ý nghĩa: Nhấn mạnh là yếu tố nào tập trung người xem nhất, nếu tất cả các yếu tố bằng nhau thì không có sự nhấn mạnh. Khoảng cách của các tín hiệu thị giác càng gần thì sẽ nhấn mạnh hình tổng thể nhưng nếu khoảng cách giữa các đối tượng càng xa thì hình tổng thể bi phá vỡ hay định luật càng bị phá. Trong nghệ thuật và đặc biệt trong thiết kế Nhấn mạnh là một nguyên tắc không thể thiếu của mỗi thiết kế, mỗi tác phẩm. Chúng ta có thể dùng các nguyên tắc Cân Bằng bất đối xứng, Tương phản, Chuyển động… để tạo nên nhấn mạnh nổi bật cho một đối tượng, cho một thông điệp mà bạn muốn truyền tải từ sáng tạo của mình. Một cách để đạt được nhấn mạnh là tạo ra trung tâm của sự quan tâm, hay còn gọi là một tâm điểm. Một khu vực trung tâm là khu vực mà mắt có xu hướng tập trung vào đó. Nó là trọng tâm của sự chú ý của người xem.

Hình ảnh minh họa:

Hình I-2p: các hình tròn lớn là yếu tố được nhấn mạnh, thu hút sự chú ý hơn.

 Hình I-2p

Hình I-2q: Ví dụ đơn giản về Nguyên tắc nổi bật với việc sử dụng màu nóng (mặt trời), màu lạnh (khung cảnh). Đồng thời dòng sông tạo thành đường dẫn hướng mắt người xem vào yếu tố nổi bật nhất.

 Hình I-2q

Trong thiết kế nội thất nhấn mạnh về việc tạo ra một tính năng trong phòng đủ lớn để có thể thu hút sự chú ý và gây nên cảm giác thú vị, đủ để khuyến khích người xem để nhìn xa hơn, thường gọi đây là tâm điểm của căn phòng.

•   Mỗi phòng đều nên có một hoặc một vài điểm trọng tâm hay còn gọi là tâm điểm của căn phòng (điểm thu hút sự chú ý). Một tâm điểm là trung tâm thu hút thị giác trong bất kỳ phòng nào đó, với tất cả các yếu tố tạo nên sự chú ý của thị giác đến thời điểm đó. Có thể chọn một vị trí dễ nhìn nhất khi bước vào phòng hoặc vị trí thường được sử dụng nhiều để tạo điểm nhấn. Đó có thể là một bức tranh theo trường phái trừu tượng treo ở phòng khác hoặc một bộ bàn ăn bằng gỗ tạo cảm giác ấm cúng ở phòng ăn hay bộ chăn ga trải giường tinh tế trong phòng ngủ.

•   Nếu không có một tâm điểm trong phòng, có thể tạo ra điểm nhấn bằng cách nêu bật một phần thú vị của đồ nội thất hoặc tác phẩm nghệ thuật, hoặc chỉ đơn giản là một bức tranh màu sắc tương phản trong một khu vực. Nhưng việc tạo ra một tâm điểm là nhiều hơn chỉ chọn một đối tượng yêu thích. Cần tạo ra một đường dẫn trực quan hoặc hướng về phía điểm đó để không có lầm tưởng những gì các tâm điểm có thể được. Một khi các tâm điểm đã được thành lập các đồ nội thất đồ nội thất theo kế hoạch phản ánh đây là các tính năng nổi trội trong phòng. Điều này có thể được thực hiện với màu sắc, kết cấu, hình dạng, kích thước, vị trí…  có thể là bức tường trang trí ấn tượng, có thể tạo ra một bằng cách nêu bật một phần thú vị của đồ nội thất hoặc tác phẩm nghệ thuật, hoặc chỉ đơn giản là một bức tranh màu sắc tương phản trong một khu vực.

•   Một cách tốt để xác định tâm điểm của bạn là đặt nó ở một nơi tương phản mạnh mẽ đối với không gian xung quanh nó. Điều này rõ ràng có thể được thực hiện với màu sắc, ví dụ như một chiếc ghế màu đen trong một căn phòng màu trắng, mà còn xem xét nó với hình dạng. Nếu bạn có một chiếc ghế vuông rất trơn, thêm một đẩu tròn cho độ tương phản và lãi. Hãy xem xét không gian tích cực và tiêu cực, quá. Đôi khi một khoảng trống (không gian âm) tạo ra một tuyên bố lớn hơn một vật rắn (không gian tích cực) nên điều quan trọng là tạo ra sự cân bằng giữa rắn và có hiệu lực. Không gian tích cực là màu sắc, đồ nội thất, tác phẩm nghệ thuật, thảm và sàn đậm. Không gian tiêu cực là sự trống rỗng giúp chúng ta tìm ra đầu mối. Quá nhiều không gian tích cực có nghĩa là lộn xộn và quá nhiều không gian âm cho thấy sự lạnh lùng và phòng chưa hoàn thành.

 Phòng Sinh hoạt chung thiết kế thoáng rộng với điểm nhấn là vách lò sưởi ốp đá rối thô mộc.

1.2.8. Định luật của sự chuyển đổi (định luật âm dương, định luật lồi lõm)

Định luật:  Khi 2 nhóm tín hiệu thị giác xuất hiện trên 1 mặt phẳng mà có tỷ lệ kích thước đối tượng tương đồng nhau sẽ tạo cho thị giác một sự chuyển đổi.

Ý nghĩa: Định luật này nhấn mạnh đến vai trò chức năng của đường viền tạo nên cảm giác chuyển đổi trái ngược nhau của hình và nền khi thay đổi sắc độ đen trắng v Hình ảnh minh họa:

Hình I-2r

1.2.9. Định luật của sự cân đối song song

Định luật: Tất cả các tín hiệu thị giác song song nhau tạo nên được tính chất cân đối song song và tạo thành nhịp, nhịp được hình hành bởi sự phát triển chuyển động song song về hướng và khoảng cách.

Hình ảnh minh họa:

 Hình I-2s

 Hình I-2t

Ví dụ sử dụng định luật cân đối song song trong thiết kế nội thất:

 Hình I-2u

1.2.10. Định luật tương phản

Định luật: Tương phản xảy ra ra khi bạn sử dụng cùng lúc các yếu tố mang tính đối lập, khác biệt. Chúng ta nhận biết sự khác biệt nhờ vào sự tương phản. Chúng ta có các cặp văn tương phản sau:

•  Tương phản chiều hướng

  • Thẳng ———- nghiêng
  • Trước ———- sau
  • Trên ———— dưới

•  Tương phản hình dạng

  • Thẳng———– tự do, cong
  • Vuông ——— tròn

•  Tương phản về kích thước

  • Dài ——— ngắn
  • To ——— nhỏ
  • Rộng ——— hẹp
  • Trên ——— dưới

•  Tương phản về không gian

  • Trước ——— sau

•  Tương phản hình thể ü Đặc ——— rỗng

  • Lớn ——— nhỏ
  • Dày ——— mỏng

•  Tương phản về đường nét:

  • Thẳng ———– cong
  • Ngang ——— dọc
  • Vuông ——— tròn

•  Tương phản về màu sắc

  • Nóng ——— lạnh
  • Đen ——— trắng

•  Tương phản về sắc độ:

  • Đậm ——— nhạt

•  Tương phản về chất liệu ü Mịn ——— thô ráp

  • Mềm ——— cứng

•  Đồng nhất – Khác biệt  Nhịp điệu (Nhanh – Chậm) ….

Chú ý: Chi tiết tương phản xem như là điểm dị biệt mà điều dị biệt đó gây tính kích thích thị giác làm cho người ta thích thú.

Ý nghĩa và vận dụng: Quá nhiều điểm giống nhau của các thành phần trong thiết kế sẽ trở thành đơn điệu. Nói cách khác việc sử dụng tương phản quá ít có thể gây ra một thiết kế nhạt nhẽo và nhàm chán.  Mặt khác quá nhiều tương phản có thể là khó hiểu.

Hình ảnh minh họa:

Tương phản to nhỏ

Hình b: Tác phẩm này hiện diện tương phản về sắc độ và đường nét (cột chống và sợi xích)

 Hình I-2v

Ví dụ về việc sử dụng tương phản trong thiết kế nội thất

Tương phản về việc mix giữa 2 phong cách, tân cổ điển lịch lãm và chủ nghĩa thô mộc làm không  gian phòng ngủ tạo ấn tượng mạnh. Sản phẩm thiết kế của học viên AWE.

1.2.11. Luật xa gần hay luật phối cảnh

–  Khi ta quan sát thực tế, cảnh vật hiện ra trước mắt như một trình tự hợp lý trải rộng ra về phía chân trời. Chúng ta đều biết bề ngang của cây cầu rộng đều như nhau nhưng lại cho ta thấy hẹp dần về phía tận cùng, những chiếc ghế ngồi vốn có kích thước bằng nhau nhưng càng về phía xa chúng càng nhỏ dần hoặc những cột đèn hai bên thành cầu có chiều cao như nhau chúng lại thấp dần về phía cuối …v…v…

–  Phát biểu: Luật xa gần còn gọi là luật thấu thị hay luật phối cảnh, là tập hợp những phương pháp biểu hiện không gian lên mặt phẳng với các yếu tố tạo hình như đường nét, hình khối, đậm nhạt, màu sắc…v…v… nhằm giải thích và trình bày diễn biến của sự vật, hình thể đang tồn tại trong không gian từ gần đến xa theo quy luật thị giác. Thực ra đây là một quy luật mà hầu hết chúng ta đều tự nhận biết được từ khi còn nhỏ đó là: gần thì to, xa thì nhỏ.

–  Giả sử con người nhìn thấy một khung cảnh thực tế qua mặt kính cửa sổ bằng một mắt. Cảnh vật nhìn thấy được là do những tia sáng phát ra từ những điểm khác nhau của bức tranh thực tế đập và mắt ta. Sự quy tụ những tia sáng như thế được gọi là một chùm tia chiếu hay sự chiếu. Chùm tia chiếu đó xuyên qua mặt kính cửa nếu được đánh dấu lại từng điểm thì tập hợp những điểm như vậy sẽ là một hình chiếu. Mắt con người tiếp nhận hình chiếu đó đúng như nó đã thu nhận chính quang cảnh thực tế, do đó một bức vẽ có thể chứa đựng toàn bộ bức tranh xuất hiện trên mắt kính. Với sự phối hợp của màu sắc, đậm nhạt, sáng tối, bức vẽ có thể đem lại không gian giống như ở thực tế.

–  Ứng dụng luật xa gần vào phối cảnh:

Dựa theo Luật xa gần người ta sử dụng các đường và điểm làm cơ sở tạo dựng không gian trên bề mặt đó là:

Mặt vật thể

XY- Đáy tranh

– Điểm nhìn

O’ – Chân điểm nhìn

P   – Điểm chính

K – Mặt tranh

OP – Tia nhìn chính

HH – Đường chân trời

TĐBK – Điểm tụ bất kỳ

D – Điểm cự ly

 Tất cả các điểm tụ đều nằm trên đường tầm mắt

Lưu ý: Áp dụng luật xa gần với trong phối cảnh với các đường thằng song song với mặt đất. Các đường thẳng khác như đường vuông góc với mặt đất thì không áp dụng phối cảnh.

–  Phối cảnh một điểm tụ hoặc phối cảnh song song

Khi nhìn vào trực diện/nhìn thẳng vào khối hộp thì chúng ta áp dụng phối cảnh một điểm tụ hay còn gọi là phối cảnh song song:

–  Phối cảnh góc

Khi nhìn lệch từ một bên sang chúng ta có 2 điểm tụ gọi là phối cảnh góc:

 Phối cảnh góc

Phối cảnh chiếc ghế theo luật xa gần – phối cảnh góc

 Phối cảnh nội thất theo luật xa gần. Sản phẩm thiết kế của học viên AWE.

Tất cả các đường của 1hệ thống đường thẳng song song trong phối cảnh đều gặp nhau tại 1 điểm. Vậy nếu có nhiều hệ thống đường thẳng song song sẽ có nhiều điểm tụ:

 Thế giới của cảnh vật xuất hiện trước mắt ta như một bức tranh hoàn mỹ của hiện thực về các hình khối, màu sắc, sắc độ …v…v… Các vật thể tồn tại trong mối quan hệ chặt chẽ theo quy luật của tự nhiên, dường như sắp xếp theo một trật tự hợp lý mà ta không thể phủ nhận. Tuy nhiên nó chỉ là hình ảnh và hình dạng cấu trúc bên ngoài của vật thể mà mắt ta ghi nhận được bằng thụcảm thị giác một cách phiến diện và chỉ phản ánh được phân nửa bề mặt của vật thể ta cố định điểm nhìn.

Mặt khác, hình ảnh không bao giờ phản ánh đúng hình dạng và kích thước thật của vật thể, một chiếc gậy đặt trước mắt ta có chiều dài thực tế bao nhiêu rất khó đoán đúng, vì khi ta tiến gần lại hay lùi ra xa thì cho ta cảm giác dài ra hay ngắn đi. Nếu chiếc gậy có hướng đi thẳng vào mắt, ta chỉ còn thấy hình tròn của đầu gậy, Trước mắt ta hình dáng và kích thước của vật thể đều bị biến dạng và sai lệch đi như thế. Cho nên hình ảnh mà mắt ta nhận ở thực tế khác với bản chất của nó như miệng lò hình tròn lại có hình clip, mặt bàn hình chữ nhật lại có dạng hình thang hay hình bình hành…v…v…

Chính do những tính chất trên, việc truyền đạt trong không gian trên mặt phẳng mới thực hiện được. Một hình clip được trình bày trên mặt phẳng làm ta liên tưởng đến hình tròn trong không gian. Cũng vậy, hai đường thẳng gặp nhau có thể gợi cảm nghĩ về sự song song

Để thấy rõ mối liên hệ giữa hình ảnh trong không gian và các hình ảnh trên mặt phẳng ta hãy phân tích một số đặc điểm của hai loại đó với những tên gọi riêng là vật nổi và hình nổi.

Vật nổi

Bù vào những thiếu sót do tính chất phiến diện và sai lệch cùa mắt, các hình ảnh cùa vật thể trong không gian đã thể hiện sự trung thực cùa mình qua một phẩm chất riêng gọi là hiệu quả nổi. Hiệu quà đó mạnh mẽ đến mức làm ta quên hẳn rằng đó chì là những hình ảnh, để thừa nhận rằng đấy là nhũng vật thể đang tồn tại. Và ta hoàn toàn có thể sờ mó vào các vật thể đang ở đúng vị trí của chúng trong không gian, lúc này, ta mới hiểu rằng các vật thể ấy được cấu tạo khác chứ không phải như ta vẫn thấy. Cuối cùng ta phải thừa nhận những điều trông thấy chỉ là những hình ảnh của vật, nhưng nó vừa là hình ảnh lại vừa là vật, đó chính là nhũng vật nổi đang tồn tại và chiếm một vị trí nhất định trong không gian.

–  Hình nổi

Hình nổi thực chất là hình phẳng, chiếm một vị trí nhất định trên mặt phẳng nhưng khi nhìn lại cho ta cảm giác nổi gần đúng như khi nhìn trực tiếp vào vật thể.

Đối với thị giác, vật nổi hay hình nổi đều gây một ấn tượng về sự nổi cùa vật thể và chiểu sâu cùa không gian, nhờ dó mà người họa sỹ có thể diễn tả trong bức tranh cùa mình cả một không gian rộng lớn.

–  Khoảng cách

Muốn có hình ảnh cùa vật thể ta phải tạo ra giữa mắt và vật một khoảng cách thích hợp. Nếu không có khoảng cách đó hay khoảng cách không thỏa đáng, vật sẽ bưng lấy mắt không thấy gì hết, hoặc chi thấy hình ảnh méo mó, không đủ đọ tin cây để nhận biết ra vật thể.

Khi ta đứng quan sát hay ghi chép cảnh vật, từ mắt tới vật tất yếu có một khoảng cách. Vật ở gần có khoảng cách nhỏ, vật ở xa có khoảng cách lớn, tùy theo vị trí của các vật thể khác nhau trong không gian mà tạo ra giữa chúng có khoảng cách xa gần đối với mắt. Những khoảng cách lớn nhỏ này làm cho hình ảnh của vật thể không cố định, khi gần thì lớn, khi xa thì nhỏ, nhưng dù trong trường hợp nào, hình ảnh của vật do mắt nhận được cũng nhỏ hơn kích thước thật của chúng. Vì vậy, đối với kích thước của vật, mắt phải luôn ước lượng. Muốn ước lượng được, tức là so sánh một vật nào đó với một vật mà ta đã hiểu rõ và quen nhìn.

Thí dụ: một mô hình kiến trúc sẽ gây cảm giác đồ sộ nếu ta đặt cạnh đấy nhũng hình người nhỏ, cũng mô hình ấy đặt bên cạnh đấy những hình người lớn hơn, cảm giác đổ sộ sẽ giảm đi

Như vậy ta hiểu ngay rằng vì sao với cùng một khuôn khổ tranh lại có thể biểu hiện được một không gian chật hẹp hay rộng lớn khác nhau.

Nhưng dù sao, sự ước lượng của mắt cũng có mặt hạn chế, nó chỉ nhìn gần chính xác đối với bề cao và rất khó chính xác đối với bề sâu do sự rút ngắn của vật thể đi vào chiều sâu của không gian. Đây là một đặc điểm mà người họa sĩ cần lưu ý khi xây dựng hình.

Sự nhạy cảm của thị giác giúp mắt ta bắt nhìn sự vật rất nhanh, nên chỉ trong khoảnh khắc mắt ta có thể ghi nhận được một lượng hình ảnh khá lớn. Tuy nhiên trong cùng một lúc ta khổng thể hiểu và phân biệt sự khác nhau của các vật thể, mà cần có một khoảng thời gian vừa đủ nhất định. phân tích, sắp xếp và ghi nhớ rồi mới truyền đạt lại được.

Do vậy để đạt được kết quả tốt khi quan sát, mắt ta vừa phải bao quát vừa phải tập trung, gọi là sức bao quát và tập trung của mắt.

Sức bao quát

Sức bao quát là khả năng ghi nhận một lúc nhiều hình ảnh, nhưng không phải từng thứ riêng rẽ, mà trong những quan hệ về điều kiện không gian. Hình ảnh của các vật thể mà mắt ta thu nhận được tuy đầy đủ nhưng chưa hoàn chỉnh, nó sẽ phai nhạt rất nhanh khi ta quay đi hướng khác.

Sức tập trung

Sức tập trung là khả năng duy trì hướng nhìn vào những điểm trọng yếu, thường là những điểm hấp dẫn nhất. Khi ta nhìn lâu về hướng nào, sự nhìn sẽ tập trung vào một khoảng, sự vật trong khoảng đó được chú ý hơn và hình ảnh của nó cũng hoàn chỉnh dần dần. Lúc đó nhiều vật khác xung quanh hầu như bị lãng quên hoặc méo mó di, tuy vẫn còn hình ảnh. Sức tập trung của mắt thường dồn vào những điểm hấp dẫn nhất và có thể di chuyển từ điểm này qua điểm khác nhưng không thể dổn vào nhiều điểm cùng một lúc.