2.2.1. Định nghĩa
– Định nghĩa: Đường nét không phải là một sự thật cụ thể nhìn thấy ở sự vật nhưng là một dấu hiệu tượng trương giới hạn tách rời một sự vật, một dấu hiệu tượng trương giới hạn, tách rời một sự vật với những sự vật xung quanh nó (đường nét chỉ là giả định).
Hình II -1a
– Đường: Xem như một vạch vẽ dài có thể liên tục hay đức khoảng, cong, ngay hoặc đơn điệu hay thay đổi.
• Trên một bức vẽ sữ dụng nhiều đường thẳng song song, điều đặn dễ tạo cảm giác đơn điệu, khô cứng. Khi cần vẽ những đường thẳng (trừ khi vẽ trang trí) nên tô vẽ bằng tay.
• Đường thẳng đứng: tượng trưng cho sự sóng động.
• Đường thẳng nằm ngang: tượng trưng cho sự chết sư, sự tĩnh….
• Đường chéo góc – góc xiên: tượng trưng cho sự biến cố bất ngờ, sức mạnh, hành động….
• Đường cong: sự duyên dáng + bay bướm + sự chuyển động. . .
• Đường gẫy: Cảm giác về một sự tan vỡ + thay đổi…
– Đường viền: Nét chu vi hay nét bao quanh một hình vẽ. Khi vẽ đường viền tức là tạo ra hai phần bằng nhau:
• Phạm vi bên trong đường viền tức là bề mặt của vật.
• Phạm vi bên ngoài -> Phần không gian của vật.
• Có nhiều cách thể hiện: nhấn mạnh ở hình trang trí. Xóa mờ ở hình họa nơi có ánh sáng tác động. Trong design, nét có thể do chính bản thân sản phẩm tạo thành.
– Nét: Biểu thị động tác vẽ bằng một dụng cụ nào đó, có điểm khởi đầu và kết thúc. Nét biểu lộ tính cách: Mạnh +yếu + nhẹ nhàng + hợp lý +điêu luyện + lã lướt . . .
• Đặc tính lập lờ, hai mặt, đa nghĩa của đường nét khi tạo nên hình làm cho ta liên tưởng đồng thời nhiều hình ảnh thị giác khác nhau. Trong các loại đường nét không phải nét nào cũng có giá trị ngữ nghĩa như nhau, chúng ta chia thành bốn loại đường nét sau:
• Nét có nghĩa: Là loại nét mà khi thiếu nó hình sẽ không có nghĩa như mong muốn, tín hiệu cần thông tin sẽ mất.
Nét có nghĩa

Hình II-1b
• Nét cấu tạo: Là nét mà khi vắng nó người ta vẫn nhận ra hình một cách trọn vẹn thông qua liên tưởng. Hình vẽ:
Nét cấu tạo

• Nét đa nghĩa: Là loại nét mang hai nghĩa trở lên.

• Nét liên tưởng: Nét có thể bỏ được mà không ảnh hưởng gì đến hình nhưng nếu thiếu nét liên tưởng sẽ gây cảm giác thiếu, không rõ ràng v Đường – nét là hai yếu tố khác nhau:
• Đường vẽ trên lí trí + nét vẽ thuộc về tình cảm.
• Đường vẽ cố định, nét vẽ tùy hứng.
• Đường vẽ diễn tả sự vật, nét vẽ diễn tả sự vật – họa sĩ.
• Đường vẽ cứng cỏi nét vẽ linh động.
2.2.2. Giá trị thẩm mỹ của đường nét
– Khái niệm:
• Khi ngắm phong cảnh tạo vật ta nhận thấy những loại đường nét gợi cho trí óc chúng ta cái cảm tưởng khá, nhận thức rõ rành để ghi nhớ, tìm tòi, trào dâng tình cảm bất chợt, … Cũng đôi khi cái cảm tưởng đó vượt khỏi tầm phân tách của ta.
• Đường nét lại còn cho ta nhiều cảm tưởng đặc biệt tùy theo vị trí của nó và cách xếp đặt. Ai lại không biết là đường ngang gợi cảm giác bình thản, buồn bã biểu lộ sự lâu dài. Trái lại đường dọc gợi cho cảm giác sôi nổi và phát sinh ra cảm tưởng trang nghiêm, cao quý. Chúng ta chợt có những cảm giác lạ khi ta ngắm đường ngang mặt biển trải rộng mênh mông hầu như vô tận trước tầm mắt chúng ta, cảm nhận cái mềm mại nhưng dữ dội của song bể hay khi ngắm cây tháp cao vút của ngôi giáo đường ta thấy lân lâng lên mãi như dễ đụng tới từng mây, ta cũng cảm nhận được vẻ thướt tha, mềm mại của nhành liễu trong gió thu…Tất cả những cảm nhận ấy do tính chất thẩm mỹ của đường nét tác động đến chúng ta.
• Đây không phải những tín hiệu mang tính chất đơn lẻ của đường nét mà là tín hiệu của tính chất tương quan giữa các mặt đối lập trong đường nét ấy gây ra. Ví dụ như âm thanh nếu ta chỉ gầy đàn cho vang lên một nốt, một âm thì nó chỉ cho ta cảm thấy độ cao thấp, to nhỏ, dài ngắn của âm thanh nhưng khi đánh một số nốt trong một hòa âm mới gây một tác động cho thị giác nhận thức được âm thanh buồn hay vui, trầm lắng hay sôi động, êm ái hay dồn dập…
• Những cảm giác đó tăng độ lực và phát hiện với những đường lập đi lập lại và giảm bới đi khi có những đường nghịch với nó.
Sự gợi cảm bằng đường nét:
– Nét ngang: đường ngang gợi cảm giác bình thản, yên tĩnh, phẳng lặng, buồn bã biểu lộ sự lâu dài
– Nét dọc: gợi cho cảm giác sôi nổi, phát triển, tạo ra cảm tưởng trang nghiêm, cao quý.
– Nét thẳng xiên:
• Nét thẳng ngang: cảm giác cân bằng, yên tĩnh, ổn định. Trong nghệ thuật nếu sử dụng nét theo phương nganh tạo sự ổn định và tĩnh trong hình ảnh.
• Nét xiên: nghiêng ngả, bấp bênh, gãy đổ, không ổn định, xáo trộn. Trong nghệ thuật khi sử dụng nét xiên để tạo bố cục hình thể sẽ tạo cảm giác xao động cho người xem.
• Nét thẳng xiên: Nét xiên phát triển nhiều hướng khác nhau trên một đường liên tục sẽ thành gãy khúc. Nét gãy khúc biểu hiện sự hoạt động mạnh mẽ, xáo trộn. Nét gãy khúc nghiêng về một hướng tạo cảm giác mạnh mẽ, gay gắt hơn.
– Nét cong:
• Đường cong cũng không có được tính chất rõ ràng như đường thẳng. Ta cũng thấy những đường cong rất mỹ miều hấp dẫn như trong thế giới thảo mộc, trong thế giới động vật lúc còn nhỏ và nó mất dần đi khi cằn cỗi già nua, và cũng như thấy đường cong đậm tính chất uy nghi gần nghĩa điều hòa khi nó mô tả đạn đạo vòng cầu.
• Đường cong dùng để nối liền những yếu tố trong bố cục và ráp lại những phần trong bố cục. Vì sự quan trọng của nó nên trong nhiều trường hợp nếu thiếu nó thì bố cục không thành.
• Nét cong có sự uốn cong về hai chiều đối lập và có nhịp điệu cho nên tạo cho người xem có cảm giác hình ảnh có sự nhịp nhàng, uyển chuyển, mềm mại, dịu dàng cho một cảm xúc thẩm mỹ.
• Những đường cong so với đường thẳng gây cho ta cảm giác có lực uống về phía chiều ngang và đồng thời có cảm giác co và kéo ở hai đầu cong. Có những dáng uống như uốn về một chiều, uốn về hai chiều, uốn về hai chiều dãn ra, uốn về hai chiều co lại, uốn linh tinh không định hình.
• Trong thực tế có những hình ảnh như hoa nở, miệng cười…nó cũng phù hợp với hướng của cung tròn cong lên. Mặt khác do hai đầu của cung hướng lên phía trên nên người ta nhìn dạng cung này thường có cảm giác vui tươi, lạc quan.
Ẩn dụ và diễn cảm của một số đường nét (Hình II-2a)
Chiếc giường thiết kế dạng thuyền tròn với cung tròn uốn nhẹ tạo cảm giác vui mắt, ấn tượng
• Trái lại cung úp xuống trong thực tế trùng với hình ảnh nấm mồ, cành hoa héo rũ, mắt cúp xuống…và do hai đầu của cung cong chỉ xuống phía dưới nên gây cảm giác buồn.
– Ngôn ngữ rung cảm của đường nét: Làm sao những đường nét chỉ có hình thức trừu tượng tạo được rung cảm?
• Nếu chúng ta nghiên cứu một số những tác phẩm hội họa thì ta thấy bố cục của những họa sĩ danh tiếng thường đặt căn bản trên vài hình thức kỷ-hà-học. Không phải chỉ có hội họa mà còn cái gì do người tạo ra đều tìm đến hình thức sắp xếp của Kỷ-hà-học vì nhãn quan của người ta đã bị giáo dục theo cái cân xứng sắp xếp đó, vô tình chúng ta đã tìm những đường mạnh của bố cục để căn cứ vào đó mà suy tưởng và cảm xúc.
• Bố cục của vũ trụ đặt căn bản trên hình thức kỷ-hà-học nên làm cho cảm giác chúng ta bị những hình thức kỷ hà ăn sâu và chi phối. Thí dụ khi nói đến kim-tự-tháp Ai-Cập là ta nghĩ ngay đến hình chóp bốn góc, khi nói đến nhà thờ ta nghĩ ngay đến tháp chuông cao vút với vẻ uy nghi. Như vậy là có sự liên quan chặt chẽ giữa sự xây dựng đường nét của ảnh với sự truyền cảm của tâm hồn. Nếu ta chú ý đến sự phù hợp đó ta sẽ kiểm điểm được bố cục của ta.
Hình II-2b
Hình II-2c
– Như chúng ta đã thấy, ánh sáng chiếu vào những hình thể trong vũ trụ, tạo nên đường nét. Đường nét có thể là đen, là trắng, là xám, cũng có thể to hoặc nhỏ và không bắt buộc phải liên tục. Tùy theo tính chất và vị trí của đường nét, tùy theo những đường viền kết hợp thành nó, nên đường nét có thể làm rung cảm tâm hồn và tạo những nguồn cảm xúc khác nhau.
– Đường nét là căn bản xây dựng nội tâm của ảnh: thẳng, cong hay gẫy khúc, nó có thể cho nhìn thấy hoặc cụ-thể-hóa ra, hoặc gợi ra (trong phong cảnh không có đường nét lớn để lấy làm chính thì sự liên lạc hữu hình hoặc vô hình là đường nét chính) cho người xem.
– Đường nét có thể là ngang, là dọc, là chéo. Đường nét có thể đặt theo những nhịp điệu có nhiều tương ứng với chúng ta, bởi vì nó bắt nguồn từ những sự biểu lộ tự nhiên và nó lượcđồ-hóa sức mạnh ấy tùy thuộc loại hình ảnh trình bày không thay đổi từ ngàn xưa.
– Đường dọc: Người ta ghép ý nghĩa trang nghiêm với đường dọc
– Đường ngang: phẳng lặng với đường ngang, yên tĩnh v Đường chéo: sống động với đường chéo.
– Đường thẳng: đường thẳng vẫn có ý nghĩa là cứng rắn, là nghiêm khắc, đường cong diễn tả sự rung cảm và sự trọn vẹn, đường gấp diễn tả sự sống động và hỗn loạn.

– Đường cong: cũng không có được tính chất rõ ràng như đường thẳng. Ta cũng thấy những đường cong rất mỹ miều hấp dẫn như trong thế giới thảo mộc, trong thế giới động vật lúc còn nhỏ và nó mất dần đi khi cằn cỗi già nua, và cũng như thấy đường cong đậm tính chất uy nghi gần nghĩa điều hòa khi nó mô tả đạn đạo vòng cầu. Đường cong dùng để nối liền những yếu tố trong bố cục và ráp lại những phần trong bố cục. Vì sự quan trọng của nó nên trong nhiều trường hợp nếu thiếu nó thì bố cục không thành. Đường cong thường thể hiện sự mềm mại, duyên dáng, tinh tế, nữ tính.
– Góc cạnh:
• Góc cạnh là do sự gặp nhau của hai đường hội tụ mà thành và gợi cho những cảm giác do đường nghiêng nghiêng của cạnh.
• Góc cạnh càng thu hẹp thì cảm tưởng càng nhiều và giống như cảm tưởng phát sinh bởi cái ngắn của đường dọc.
• Góc cạnh càng mở rộng cảm giác có thể gần gũi đến lẫn lộn với cái ngắn của đường ngang.
• Như thế những đường của hình chóp và hình tam giác cho ta ý niệm lạ, lâu dài… bền bỉ, vững vàng. Tùy theo hình dáng cân xứng của hình tam giác mà ta sẽ thấy hợp với đường ngang hay với đường dọc: hình tam giác cạnh dưới (đáy) hẹp và mỏng mảnh sẽ thoảng thấy như đường dọc. Hình tam giác cạnh dưới (đáy) rộng sẽ thấy như đường ngang.
• Hình tam giác gợi cảm giác vững chắc và sống động mà khi thêm vào đó những đường chéo sẽ cho cảm tưởng hoạt động và nhịp nhàng.
– Đường hội tụ: cũng có thể gợi cho ta sự thoát ra, sự vô tận. Tùy theo vị trí của điểm tụ mà những đường đó cho ta cảm tưởng đi lên hay cảm tưởng về chiều sâu.
– Đường chéo: gợi sự hoạt động, tốc độ. Nếu bắt chéo nhau, nó biểu lộ sự lẫn lộn, sự không thăng bằng, sự hằng hà sa số. Nếu nó vượt khỏi một điểm thì đó là phóng ra, là tia ra, là đụng chạm và là bạo hành. Nếu nó được phân chia đều đặn, nó cho ta cảm giác vững vàng.